GIA TIÊN Cha và Mẹ

Với tấm lòng tiếc thương vô hạn, tôi xin ghi lại các hình ảnh và văn bản vĩnh biệt mẹ tôi để các em tôi, con tôi, cháu tôi sau này phải nhớ đến chúng đã có một người mẹ, người bà, người cố như thế... 



Dành cho các em, cháu ở xa và ngoài nước:

Ảnh đám tang Mẹ

Ảnh lăng Mẹ


Mẹ ơi hãy tha thứ cho mọi lỗi lầm của anh em chúng con, đã làm cho Mẹ buồn phiền, mà lúc đó chúng con không thể ý thức được hết tội lỗi của chúng con...





Lễ Truy điệu


Lễ Di quan



Lễ Hạ rộng với đứa cháu nội đích tôn 6 tuổi...



Vĩnh biệt Mẹ... Vĩnh biệt Bà...



Nơi an nghỉ cuối cùng của Mẹ bên cạnh Cha tôi



ĐIẾU VĂN CỦA BAN TỔ CHỨC LỄ TANG

Đọc tại lễ truy điệu đồng chí Trần Thị Tấn.

Lúc 07 giờ 15 phút, Thứ hai ngày 28/3/2011


Kính thưa các đồng chí và các quý vị!

Thưa gia quyến đồng chí Trần Thị Tấn!


  Đồng chí Trần Thị Tấn, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam - Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng, nguyên Phó Trưởng phòng Cung cấp Sở lương thực Hà Nội, đã nghỉ hưu. Do tuổi già, mặc dù gia đình đã hết lòng chăm sóc, nhưng tuổi cao sức yếu, đồng chí đã từ trần vào lúc 13 giờ 35 phút, ngày 24 tháng 3 năm 2011 (Nhằm ngày 20 tháng 02 năm Tân Mão). Thượng thượng thọ: 90 tuổi.

  Hôm nay trong niềm tiếc thương vô hạn, Quận ủy, UBND, UBMTTQVN quận Hải Châu; Đảng ủy, UBND, UBMTTQVN phường Bình Thuận, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng và gia đình tổ chức lễ viếng, truy điệu và tiễn đưa linh cữu đồng chí Trần Thị Tấn về nơi an nghỉ cuối cùng.

  

  Kính thưa các đồng chí và gia quyến!

  Đồng chí Trần Thị Tấn, sinh năm 1922, tại thị trấn Nam Phước, Huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng nam. tuổi thơ đồng chí đã sớm chứng kiến bao cảnh lầm than, cơ cực của người dân dưới chế độ hà khắc của thực dân, phong kiến. Lớn lên trong gia đình truyền thống cách mạng, với lòng căm thù giặc sâu sắc, đồng chí đã sớm giác ngộ lý tưởng và tham gia hoạt động cách mạng từ tháng 10 năm 1945.

  Từ tháng 10 năm 1945 đến tháng 12/1954: Đồng chí tham gia làm bí thư Phụ nữ tại nhà; làm công tác Phụ nữ huyện Duy Xuyên. Trong quá trình công tác, với sự nỗ lực phấn đấu, rèn luyện, tháng 8 năm 1946 đồng chí vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (Nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Từ khi là người Đảng viên Cộng sản đồng chí luôn thể hiện tính tiên phong, gương mẫu vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao và đồng chí đã được tổ chức tín nhiệm phân công làm Bí thư Đảng Đoàn của huyện Duy Xuyên; Cán bộ phụ nữ tỉnh Quảng Nam; Cán bộ phụ trách hộ lý trong chiến dịch năm 1953 tại Quảng Nam.

  Từ tháng 1/1955 đến tháng 12/1965: Đồng chí được tổ chức cho đi tập kết ra miền Bắc, bố trí làm thủ quỹ Cửa hàng lương thực thuộc Công ty Lương thực Nam Định; Đi học tại trường Kinh tế tài chính Trung ương, Hà Nội; Làm quản lý thị trường của công ty Bách hóa Hà nội.

  Từ tháng 01/1966 đến tháng 07/1974: Đồng chí được tổ chức điều động đến công tác tại phòng Cung cấp, sau đó được bổ nhiệm làm Phó trưởng phòng Cung cấp Sở Lương thực Hà Nội.

  Từ tháng 08/1974 đồng chí được Đảng và nhà nước cho về nghỉ hưu, tham gia sinh hoạt Đảng và cư trú tại Lò Đúc, Quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

  Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đồng chí chuyển sinh hoạt Đảng và cùng gia đình về cư trú tại phường Bình Thuận, Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

  Với tinh thần của người Đảng Viên, mặc dù đã nghỉ hưu nhưng đồng chí vẫn tiếp tục tham gia làm công tác Phụ nữ tại địa phương, trong quá trình công tác đồng chí gần gũi nhân dân, có nhiều đóng góp cho địa phương.


  Kính thưa các đồng chí và gia quyến!


  Trong suốt quá trình tham gia hoạt động cách mạng và công tác liên tục, trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ gian khổ, đầy hy sinh ác liệt cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đồng chí Trần Thị Tấn luôn nêu cao phẩm chất tốt đẹp của người Đảng viên. Dù ở bất cứ nơi đâu, giữ bất kỳ cương vị công tác nào, đồng chí đều sống giản dị, trung thực, tận tụy với công việc, nêu cao tinh thần trách nhiệm, luôn hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, Nhân dân giao phó. Đặc biệt là cán bộ nữ, đồng chí đã vượt qua nhiều khó khăn thử thách để hoàn thành thiên chức của người Phụ nữ Việt Nam, vai trò của người vợ, người mẹ sinh và nuôi dạy 3 người con trưởng thành. Đồng chí đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thân yêu.

  Với những cống hiến vẻ vang đó đồng chí đã được Đảng và Nhà nước khen tặng:

  - Huy hiệu 40-50-60 năm tuổi Đảng;

  - Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng ba;

  - Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất;

  và nhiều bằng khen, giấy khen, danh hiệu thi đua của các ngành Trung ương, địa phương khen tặng.


  Kính thưa các đồng chí và gia quyến


Từ buổi đầu tham gia hoạt động cách mạng cho đến khi vĩnh biệt chúng ta, đồng chí Trần Thị Tấn luôn nêu tấm gương sáng về Đạo đức cách mạng, lòng dũng cảm, kiên cường, bất khuất, trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc, hết lòng phục vụ cách mạng và nhân dân. Quý trọng nghĩa tình đồng chí đồng đội và dành biết bao tình cảm yêu thương, trìu mến cho gia đình, họ tộc, hàng xóm và bạn bè thân thiết.

  Dẫu biết rằng quy luật ngàn đời sinh ly-tử biệt, nhưng giờ đây đồng chí đã về cõi Vĩnh hằng, Đảng và Nhà nước mất đi một người Đảng Viên Cộng Sản trung kiên; Gia đình mất đi người mẹ; Người bà yêu quý, nhân hậu; và gia đình mất đi một hậu phương vững mạnh, một hậu thuẫn kiên cường. Quê hương, hàng xóm và bạn bè mất đi một người đồng chí, người bạn thân thiết gần gũi và tin yêu. Sự mất mát lớn lao này không những của riêng gia đình thân quyến đồng chí mà là sự mất mát chung của Đảng của nhà nước và của tất cả chúng ta.

  Hôm nay, vĩnh biệt đồng chí, trong niềm tiếc thương vô hạn, chúng tôi kính mong gia đình hãy nén đau thương để tiếp tục sự nghiệp vẻ vang của đồng chí, góp phần mình cùng với Quận, Phường, và bà con địa phương thực hiện những hoài bão lớn lao mà đồng chí đã phấn đấu cho đến hơi thở cuối cùng.

  Trong giờ phút trang nghiêm này, chúng tôi xin được chia sẻ những đau thương mất mát với những người thân yêu trong gia đình và xin gửi đến gia đình đồng chí lời chia buồn sâu sắc nhất của Quận ủy, UBND, UBMTTQVN quận Hải Châu; của Đảng ủy, UBND, UBMTTQVN phường Bình Thuận, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng cùng với các cơ quan địa phương, đơn vị đã từng gắn bó với đồng chí trong thời gian công tác, chiến đấu và bạn bè đồng chí có mặt trong lễ truy điệu đầy xúc động này.


  Đồng chí Trần Thị Tấn kính mến


  Nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó đến đây đồng chí đã hoàn thành, trách nhiệm đối với gia đình và người thân đã trọn vẹn. Những cống hiến cao quý của đồng chí, đó chính là niềm tự hào mà đồng chí để lại cho đất nước, quê hương, người thân và trong mỗi chúng tôi.

  Xin đồng chí hãy thanh thản yên giấc ngàn thu.

  Chúng tôi xin kính cẩn nghiêng mình vĩnh biệt đồng chí.


(Phút mặc niệm bắt đầu)



LỜI CẢM TẠ CỦA GIA ĐÌNH


Gia đình chúng tôi, con trai, con gái và cháu của cụ bà Trần thị Tấn, xin kính thưa và chân thành cám ơn tới:                                                       

- Quận ủy – UBND – UBMTTQVN quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng;

- Đảng ủy – UBND – UBMTTQVN phường Bình Thuận , quận Hải Châu;

- Phòng Nội vụ quận Hải Châu;

- Phòng LĐ – TBXH quận Hải Châu;

- Hội người cao tuổi phường Bình Thuận;

- Chi bộ 1A phường Bình Thuận;

- Tổ dân phố 2 phường Bình Thuận;

- Trường Đại học Nghệ thuật Huế và các đoàn thể trong trường.

Cùng gia quyến họ hàng Nội - Ngoại, thông gia bạn bè gần xa, bà con làng xóm. Đã chia buồn, phúng viếng và tiễn đưa Mẹ chúng tôi về nơi an nghỉ cuối cùng. Trong lúc tang gia bối rối, gia đình chúng tôi có điều gì sơ xuất, rất mong được lượng thứ.

Thay mặt gia đình

Trưởng Nam 

Phan Xuân Hòa 



Các con yêu quý của ba, nhất là cu Hưng.


. . Nói về mẹ, mà không nói về cha và bên nội là một lỗi lớn của ba, bởi bây giờ ba mới có thời gian cùng các con. Tên tuổi của bên nội ba cũng không biết rõ. ba sẽ về quê và bổ xung để các con sau này rõ hơn về gia phả hệ bên nội...

Nhân lúc ba về quê làm nhà thờ trên nền nhà của ông cố ba (Kỵ của các con), ba cũng muốn có một vài lưu bút để các con hiểu rõ hơn về dòng họ nhà mình. Nhất là Minh Hưng – Cháu đích tôn.

Ba chỉ nghe cô hai Thăng (Cô ruột của ba, năm nay đã 98 tuổi) kể về nhà mình.

Tất cả danh xưng với các cô chú và bà con mình ba lấy danh phận của ba để xưng hô cho tiện. Các con chỉ việc nâng lên một cấp là đúng thứ tự về xưng hô. Ví dụ ba nói cô Hai Thăng – có nghĩa là các con phải kêu là Bà nội cô. Vì Cô là chị ruột đầu của ông nội các con.

Ông cố của Ba (tên là Phan Tranh) Lấy bà cố tên là Hà Thị Thục

Ông cố sinh được 8 người con nhưng chỉ có 3 người con trai. Con trai đầu tên là Phan Khai, thường gọi là ông Xã Tuần, vì có làm chức sắc ở làng ngày xưa (Lý trưởng) – chính là ông nội của ba. Ông Xã Tuần lấy vợ tên là Đinh Thị Nội sinh được 10 người con (4 trai và 5 gái). Cô đầu là cô Hai Thăng (Phan thị Mót) sinh vào cỡ năm 1913, hiện còn sống gần 100 tuổi. Tiếp đến là cô Tư (đã mất từ lâu). Thứ năm chính là ông nội các con. Thứ sáu là chú Sáu Quỳ (Phan Quỳ), sinh được 4 người con 3 gái, và 1 trai. Nhưng  không may người con trai này chết lúc 23 tuổi, nếu còn cũng trạc tuổi ba.

Tiếp theo là cô Bảy, ba không biết thông tin về cô.

Người tiếp theo chính là chú Tám Quang, ba của cô Tuyết và cô Hồng Hoa, hai cô đã gửi tiền về xây nhà thờ hiện nay. Chú Tám Quang vào Sài Gòn cùng thời gian với chú Sáu. Sống tại Sài gòn từ những năm 1950 cho đến khi mất. Còn Chú Chín mất từ lúc nhỏ và cô Mười cũng vậy. Như vậy, từ ông cố của ba, tới ông Nội của ba là dòng trưởng, đến ba con đầu cũng là dòng trưởng, và tới cu Hưng cũng vậy, là dòng trưởng nên trách nhiệm rất nặng nề.

Còn ông nội Sáu (Phan Hân) của ba chỉ sinh được mấy anh chị em, hiện nay chỉ còn một cô mà ba vẫn gọi là cô Sáu. Cô Sáu lại sinh được một trai và một gái. Cậu con trai đã lớn nhưng vì tai nạn về mìn nên đã chết. Còn đứa con gái đã lấy chồng và con cái vẫn còn ở trong quê. Ông nội Sáu (ba gọi) khi 1975, ba theo ông Nội các con ngoài Bắc về vẫn còn gặp và sống tới năm 1980 mới mất. 

Còn người thứ ba tên là Giáp, chính là ông nội út. Đây là ông nội của chú Hai Hậu trong quê hiện nay, lúc giải phóng về ba không gặp được ông. Như vậy ba và chú Hậu cùng chung nhau một ông Cố. Nhà thờ hiện đang làm thì ông Cố là cao nhất.

Nhưng dòng họ còn có một chi tiết nhỏ nhưng gây ra nhiều sự lộn xộn về sau này. Các con cũng cần nên biết. Hiện nay ngoài chú Hậu còn có một người nữa là bác Bảy Học (các con gọi là bác nuôi, không phải ruột thịt, nhưng vẫn được dòng họ mình công nhận là họ Phan). Nguyên nhân từ thời ông Cố (Phan Tranh). Khi ông Cố con khi đã sinh được mấy người con trong đó có 3 ông nội khi đã trưởng thành và có gia đình rồi. Lúc này khi ông nội của ba đã có cô hai Thăng (12 tuổi) và cô Tư còn nhỏ, thì ông Cố dắt một đứa trẻ trạc cỡ 10 tuổi gầy ốm mà ông thấy sống ngoài chợ Hương an. Không biết lý do vì sao nhưng chỉ nghe kể là đứa bé đó bị lạc ngoài chợ, đói khát nên ông cố thương tình dắt về nhà nuôi nấng, đặt tên là Phan Trương. Sau khi lớn thì dựng vợ gả chồng. Có lẽ vì trạc tuổi cô Hai Thăng, nên ông Nội của ba nhận làm con luôn. Sau đó một vài năm thì sinh ra ông nội các con. Có lẽ cùng sống với nhau từ nhỏ, nên ông nội các con có tình cảm đặc biệt với người anh nuôi này. Theo thứ tự thì ba phải gọi người này là bác nuôi. Đây chính là cha của của bảy Học (ba gọi là anh Bảy Học). Theo cô hai Thăng kể thì sau này gia đình ly tán. Một tay bác nuôi Phan Trương lo việc mồ mả rất chu đáo. Chính vì vậy bác ấy có công với gia đình ta nhiều lắm.

Mọi chuyện rắc rối là từ khi ông Nội Sáu của ba mất. Khi ông còn sống thì ông là vai to nhất trong họ, nên thờ bát nhang ông Cố của ba (vì ông Cố của ba, ông Nội của ba, ông nội chú Hậu đều đã mất), bát nhang thờ ông Cố phải di dời về chỗ Hậu. Không ngờ khi đưa bát nhang về chỗ Chú Hậu thì mẹ của chú Hậu do bất mãn với ông nội các con, không cho đưa bát nhang thờ ông Cố vào nhà (Vì nhà ông nội các con ở Đà Nẵng, không thể đưa từ Quế Sơn ra Đà Nẵng vì mồ mả còn trong quê). Ông nội đành phải đưa bát nhang thờ ông Cố về thẳng nhà bác Bảy Học (là dòng con nuôi). Mọi chuyện rắc rối từ đây. Ông nội các con có tuyên bố: con nuôi cũng như con đẻ. Điều này khiến nhiều người trong họ và phái nói ra nói vào. Ông nội con chắc cũng biết nhưng do hoàn cảnh kinh tế không thể làm lại nhà thờ cho ông Cố ngay trên nền đất cũ. Khi ông Nội các con mất, ba mới thấy trách nhiệm thật nặng nề. Bà con trong tộc nói ra nói vô, khiến cô Hai Thăng và cô Sáu mỗi khi về Chạp đều nhắc chuyện làm nhà thờ. Khiến ba lo nghĩ. Lúc chưa sinh cu Hưng, ba và mẹ các con đã dành dụm được ít tiền dự dịnh xây thì trong quê phản đối vì họ không có tiền đóng góp nếu mình xây. Còn mình chú Tám Quang (ba của cô Tuyết và cô Hồng Hoa) là vai lớn nhât cũng không giúp gì được. Bà con nói gì các con có biết không. Họ nói ông cố, ông nội của ba ngày xưa, kẻ hầu người hạ, vậy mà ngày nay chết đi không có nhà để ở (ám chỉ để bát nhang thờ ông Cố của ba tại nhà người con nuôi). Chú Tám Quang khi về thấy sự việc có trách ông nội các con về việc này.

Vì vậy việc làm nhà thờ cứ nung nấu trong lòng của ba không lúc nào nguôi. Có tiền thì phải thuyết phục cho được Chú Hậu và Bác Bảy Học làm, vì chỉ có hai người đó trong quê chịu làm thì việc mới xong. Mà hai người này cứ lùm xùm không chịu nhau nhiều chuyện. Ba không làm thì sau này cu Hưng là vai đích tôn lại càng khổ hơn nữa.

May thay, khi bà nội các con qua đời, cô Hồng Hoa có về viếng tang, ba có nói chuyện này với cô. Sau khi cô vào Sài gòn, bàn với cô Tuyết. Thì thật không ngờ, cô Hồng Hoa cho biết, trước khi mất chú Tám Quang có trăng trối lại với cô là phải làm bằng được nhà thờ, tìm anh Hòa và anh Bình con bác Năm Chước (ông nội các con) để bàn. Vậy là kinh phí các cô chịu hết. Còn ba đứng ra tổ chức làm. Mọi việc đang diễn ra thuận buồm xuôi gió. Ngày 20/6 làm cho đến 20/8/2011 là hoàn thành theo hợp đồng. Làm ngay trên nền nhà cũ của ông Cố ba. Cô Hồng có nói chú Tám Quang khi dặn làm nhà thờ thì không thu tiền đóng góp của bất cứ ai trong dòng họ vì biết trong quê còn rất khổ. Nếu có đóng góp công sức thì được, còn tiền thì thôi. Không phải nói, các con phải biết ba mừng vui khôn xiết tả. Nỗi lo gần 20 năm qua từ khi ông Nội các con mất đến giờ mới được giải tỏa. Cu Hưng sau này cũng đỡ vất vả hơn. Đây cũng chính là lý do vì sao ba và mẹ cố sinh thêm đứa thứ ba mặc dù tuổi đã cao rồi. Nếu ba và mẹ không có cu Hưng thì dòng đích từ đời ông Cố ba đến nay sẽ tuyệt hậu. Vì chú Bình các con có ba đứa con gái rồi (Trang, Dung, Trâm), ba lại có hai con gái (Thanh và Duyên). Vì chuyện này mà mỗi lần về quê chạp mả, ba khổ tâm hết sức vì mình là dòng đích mà không có con trai. Bị bao người nói vào nói ra. Nhất là các cô của ba. Họ thấy ba, không trách móc gì, mà chỉ nhìn ba mà khóc. Cái đó mới đáng sợ nhất.

Câu chuyện của ông nội và bà nội còn nhiều chuyện các con nên biết. Lúc nào rảnh rỗi ba sẽ ghi chép lại đầy đủ cho các con rõ. Tránh trường hợp như ba không hề biết gì về dòng họ và tổ tiên (Do ông bà nội các con ra Bắc tập kết, sinh ra ba và chú Bình tại Hà nội, và sống ngoài đó cho đến 1975 mới trở về quê hương).

Dưới đây là một số vắn tắt tiểu sử về thân thế của ông Nội các con:

Họ và Tên: Phan Chước.

Sinh năm 1922.

Trước 1940: ở nhà

2-1941: Tổ trưởng Thanh niên cứu quốc

1942: Pháp bắt và bị tù tại nhà lao Hội An 2 năm.

1944: Chuyển về nhà Lao Thừa Phủ Huế.

1945: Sau khi Nhật đảo chính Pháp, vượt ngục về địa phương làm phó ban chỉ huy bạo động cướp chính quyền tại tổng Xuân Phú, Quế sơn, Quảng nam.

1946: Phó bí thư huyện Quế sơn

10-1946: Bí thư chi bộ xã Tân Phú, Quế Sơn, Quảng Nam.

1948: Công tác tại cực Nam trung bộ. Bí thư chi bộ xã Thuận Hải, Phan Rang.

1951: Ra vùng tự do Liên Khu Năm học chính trị.

1953: Cán bộ trường chỉnh Đảng Tỉnh ủy Quảng Nam Đà Nẵng.

1954: Trở về ban tổ chức Huyện ủy Quế Sơn, phụ trách công tác hậu cứ. Phó bí thư chi bộ cơ quan huyện ủy trực tiếp phụ trách hành lang liên lạc từ Tỉnh ủy về cơ quan Huyện.

1955: Tập kết ra Bắc, cán bộ tổ chức tại Bộ Thủy Lợi.

1957: Trưởng đoàn, kiêm bí thư chi bộ đoàn học sinh học xây dựng tại Trung Quốc.

1958: Về nhà máy điện Lào Kai, bí thư chi bộ và và kiêm đội trưởng sản xuất lắp máy điện.

1959: Về nhà máy điện Việt trì. Đảng ủy viên khu Công nghiệp. Bí thư chi bộ.

1960: Nhà máy Supe Photphat hóa chất Lâm Thao, Phú Thọ.

1963: Nhà máy phân Đạm Hà Bắc, phụ trách đào tạo thợ lắp máy. Bí thư chi bộ.

1967: Phị trách thực tập sinh xây dựng và Luyện kim tại Bắc Triều tiên. Sau đó chuyển sang công tác ở sứ quán, phụ trách văn phòng Đảng ủy, phó bí thư chi bộ, thư ký cộng đồng sứ quán.

1971: Về nước công tác tuyển sinh của tổng cục đào tạo Bộ lao động.

6-1975: Về tỉnh Quảng nam Đà nẵng, làm trưởng ban kiến thiết Ty Lao động.

1976: Trưởng ban kiến thiết công ty Du lịch QNĐN.

1987: Nghỉ hưu.

1993: Mất vì bệnh tai biến mạch máu não.

Khen thưởng: Huân chương kháng chiến hạng nhất. Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng. Huy hiệu 45 năm tuổi Đảng.


Dưới đây là phả hệ còn phải bổ xung thêm: Xem Tại Đây





Qua đây xin giới thiệu một số Lễ chủ chốt trong thời kỳ tang chế, để tham khảo khi ai có nhu cầu tìm hiểu (Sưu tầm)


(Các nghi lễ chi tiết xin tham khảo tại đây.)


Ấp mộ và viếng mộ (Mở cửa mả)


Theo lệ xưa, trong 3 ngày sau khi mới chôn, vào mỗi buổi chiểu con cái đem cơi trầu đến mộ mà khóc lóc gội là "ấp mộ", có ý nghĩa đem hơi nóng của tình thân gia đình làm cho mộ đỡ lạnh lùng.

  Đến ngày thứ ba, con cháu đắp sửa lại ngôi mộ cho tốt đẹp hoặc làm nhà mộ.

  Ngày thứ ba này, vùng quê gọi là "Ba ngày" có làm cỗ bàn mời bà con thân thuộc.

  Có nhiều địa phương người ta ra thăm mộ vào ba ngày này lúc buổi sớm. Và lễ này gọi là cúng "mở cửa mả" theo tục lệ xưa.

  Lệ thường người ta hay nhờ thầy phù thủy yếm bùa ở mả để trừ ma quỷ hoặc dùng gà trắng, hoặc dùng chó mực để cúng thổ thần hiawcj dùng lươn, cá chép, ốc, mỏ quạ, để yểm bùa và cho rằng làm như vậy sẽ trừ được hung thần kẻo chúng quấy nhiễu người mới chết. 

  Ngày nay, người ta cũng gọi là lễ Mở Cửa Mả, nhưng có khác hơn về chi tiết nội dung. Người ta không đi thăm từng ngày mà chỉ ra mộ vào ngày thứ 3, sau ngày an táng. người ta mang theo một cây mía lao để cắm trước đầu mả và một con gà. Thầy cúng sẽ dắt con gà này đi vòng vòng chung quanh mả. Một cái thang nhỏ được đặt ở đầu mả mà người ta giải thích rằng dùng để sau khi mả mở cửa xong, người chết từ dưới mồ leo lên, và tối lại người chết đã tỉnh dậy, biết mình đã chết nên sẽ ngồi khóc ở đầu mả.

  Việc đi viếng mộ này không bắt buộc phải đi đông đủ con cháu tang gia mà chỉ vài ba người cũng được, nhưng bao giờ cũng phải có trưởng nam hay thừa trọng tôn.

  Với các nhà nho, nhiều người làm nhà bên cạnh mộ để ra đấy ở cho đến hết Tiểu tường hay Đại tường mới dỡ về.

  Kể từ ngày thứ tư trở đi, con cháu khỏi phải ra thăm mộ, trừ những ngày rằm hay mồng một.

  Cũng từ đó ngày nào cũng phải cúng cơm một hoặc hai buổi cho đến trăm ngày. Có nơi người ta cũng cơm đủ có ba năm, cho đến hết tang. Ngày nay, nhiều người cũng áp dụng việc cúng cơm hàng ngày như vậy.


Các lễ trong thời kỳ tang chế

Kể từ ngày chết, sau khi đem an táng, người ta làm "tuần thất" nghĩa là làm lễ cầu siêu cho vong hồn người chết, nếu theo Phật giáo.

  Cứ 7 ngày lại có một lần cầu siêu và cúng cơm. Tăng ni được mời tới nhà tụng kinh, có khi suốt cả đêm. Người ta cũng có thể xin làm lễ tụng kinh tại chùa.

  Buổi tụng kinh sau 7 ngày đầu tiên gọi là Sơ thất, Tuần thứ 2 tiếp theo được gọi là Nhị thất, v.v...Tới lần thứ 7 gọi là Thất Thất, được coi là lần cuối cùng cho nên cũng được gọi là Chung Thất, hoặc là Tứ Cửu.

  Nếu tụng kinh tại chùa, thì trong các ngày tuần từ Sơ thất tới Chung thất, người ta rước hồn bạch hay Thần chủ (ngày nay gọi là ảnh chân dung người chết) lên chùa.

  Riêng tuần Chung thất là tuần sau cùng, con cháu tang gia cúng tại nhà có tế lễ, còn mang lên chùa thì có làm chay để tụng kinh sám hối, có khi kéo dài 3 ngày đêm để linh hồn người chết được siêu thăng tịnh độ. Lại có nơi làm lễ "49 ngày" này kéo dài tới 7 ngày đêm. Phật giáo quan niệm rằng tuần chung thất này rất quan trọng, là đưa hương hồn người chết lên chùa để nương cửa Phật.

  Sách ĐIỀN NGHỆ HÀNH XUÂN VŨ DẠ HƯỞNG có chép rằng: Người ta khi mới đẻ, cứ 7 ngày làm "lễ lạp", sau khi chết cứ 7 ngày làm "lễ kỵ". Cứ mõi lần lế lạp thì sinh ra một vía, mỗi lần lễ kỵ thì tan đi một vía.

  Lệ thường cứ mỗi tuần, người ta cúng cơm tại nhà và tuần Chung Thất làm chay lớn. Có làm lễ Tốt khốc luôn.

  Việc làm tuần thất với 7 lần khiến cho một số người thắc mấc là, theo sách vở cổ thì người đàn bà có tới 9 vía mà mỗi lần làm lễ kỵ thì tan đi một vía, vậy còn hai vía của người đàn bà giải quyết ra sao? Không thấy sách vở nào giải thích về việc dư thừa và trúc trắc này.


Làm chay chung thất.

Thông thường con cháu hay sợ cha mẹ tội lỗi lúc sinh thời cho nên làm chay, tụng kinh cầu siêu cho cha mẹ hết tội, sớm siêu thoát, nhất là trong trường hợp chết bất đắc kỳ tử.

  Việc làm chay Chung thất cũng như đàn chay cúng vào dịp tết Trung nguyên để cầu siêu độ cho tổ tiên. Đàn chay gồm có:

  1. Tam bảo đặt trên cùng, hoặc có khi là ba bình hương thay thế.

  2. Kế đến là tượng Tam phủ, là tượng các vị coi về Trời, Đất và Nước, thường gọi là Thiên phủ, Địa phủ, và Thủy phủ hoặc là ba bình hương thay thế.

  3. Ở giữa là tượng Đức Thích Ca và hai bên tả hữu có tượng Thiên Quan và Thành Hoàng hoặc là 3 bình hương thay thế.

  4. Hai bên có Thập Điện Diêm Vương.

  5. Ở giữa về phía dưới là Địa ngục.

  6. Dưới cùng là bàn thờ chúng sinh.

  7. Trước bàn thờ là đàn Mộng Sơn dựng cao lên để chủ lễ làm dấu hiệu siêu sinh cho hương hồn người chết.


Lễ làm chay có nghi thức rất phức tạp. Sau đây là những điểm chính của cuộc lễ, giúp bạn đọc hiểu thêm:

  a) Lễ Phật để cầu sự từ bi hỉ xả.

  b) Lễ Tam Phủ để xin xóa bỏ tội lỗi.

  c) Lễ cầu vong là lễ yêu cầu vong hồn người chết nhập vào một người đồng để cho biết ý muốn của vong và cho hiểu đời sống của vong bên kia thế giới ra sao.

  d) Lễ phá ngục để mở cửa ngục tha các tội nhân.

  e) Lễ giải oan cắt đoạn để sửa chữa tội lỗi cũ và dứt bỏ dây oan nghiệt.

  f) Lễ phóng đăng phóng sinh tức là thả đèn và thả chim lên trời hoặc cá xuống sông. Lễ này để chuộc tội cho vong.

  g) Lễ cúng cháo để để bố thí cháo và thức ăn cho chúng sinh.


  Trong các lễ vừa kể, có lễ Phá ngục có ý nghĩa căn cứ theo nguyên ủy của kinh nhà Phật. Theo đó, Mục Kiền Liên là một hiếu tử gương mẫu, được Phật độ, vào ngày rằm tháng 7, được phép xuống địa ngục để cứu mẹ đang chịu tội vì những hành vi độc ác đã làm khi còn đang ở trong trần gian.

  Lễ phá ngục diễn lại sự tích này. Mục Liên đi tìm mẹ, nhờ có gậy phép, phá hết mọi cửa ngục và cứu được mẹ.

  Làm chay xưa, nhất là ngày nay đang ở vào thời buổi kinh tế khó khăn, rất là tốn kém cho nên vẫn luôn luôn chỉ có những gia đình giàu sang dư dả lắm mới thực hiện được lễ này.


Lễ mát nhà và việc cũng cơm.

  Đây là một lễ tục có ảnh hưởng sâu trong đời sống của quảng đại quần chúng mà từ xưa không mấy ai dám bỏ qua, vì lòng hiếu thảo.

  Người nghèo túng mấy không làm lễ được ở nhà thì cũng phải đến tĩnh hay điện lễ xin thầy cúng cho bùa đem về dán ở trong nhà.

  "Lễ mát nhà" có mời thầy cúng hay thầy phù thủy (ngày xưa thầy phù thủy cũng là thầy cúng, nhưng cao cường hơn thầy cúng vì có pháp thuật) tới bài đàn mũ mả cúng tống hung thần, ném gạo muối tiễn và thỉnh bùa trấn trạch yếm mả.

  Bùa trấn trạch dán trên cổng trên nhà, cửa buồng để ngăn cấm tà ma. Bùa yếm mả để trừ trùng, cuốn gọn bỏ vào ống tre vót nhọn một đầu cắm ngập xuống phía trước mộ chí.


Các nghi lễ chi tiết xin tham khảo tại đây